Sau khi kết thúc giai đoạn tiến công xâm lược nước ta, có bọn phong kiến phản động triều Nguyễn làm tay sai, thực dân Pháp đã thi hành những chính sách vô cùng tàn bạo, nham hiểm nhằm kìm kẹp, bóc lột nhân dân ta. Chúng chia rẽ dân tộc, tôn giáo, đàn áp mọi quyền tự do, dân chủ, lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thẳng tay chém giết những người yêu nước. Chúng bóc lột dân ta đến tận xương tủy, cướp không ruộng đất, hầm mỏ, rừng núi, nguyên liệu và đặt ra hàng trăm thứ thuế làm cho nhân dân ta ngày càng bần cùng. Chưa đủ, chúng còn thực hiện chính sách ngu dân, đầu độc nhân dân ta bằng thuốc phiện, rượu cồn, làm cho nòi giống ta suy nhược.

Đồng bằng khu 3 – địa bàn chiến lược quan trọng trong đấu tranh cách mạng và kháng chiến

Trong cảnh đêm nô lệ của đất nước, đồng bằng Bắc Bộ và vùng phụ cận là kho người, kho của nên càng bị thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai bòn rút nặng nề hơn. Hàng chục vạn dân ở đồng bằng phải lần lượt bỏ quê hương đi kiếm sống ở những địa ngục trần gian được thực dân Pháp chuẩn bị sẵn như làm cu ly đồn điền, phu mỏ ở Hòn Gai, Cẩm Phả, miền Đông Nam Bộ, thậm chí sang cả Tân Đảo và các nơi khác.

Tất cả những điều đó đã thúc đẩy nhân dân cả nước ta, trong đó có nhân dân đồng bằng Bắc Bộ đứng lên đấu tranh chống lại ách thống trị tàn bạo của kẻ thù.

Cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc trên khắp đất nước ta cùng với các phong trào nổi dậy ở đồng bằng Bắc Bộ và phụ cận qua phong trào Cần Vương đến Đề Thám, cuối cùng đã lần lượt bị thực dân Pháp và bọn tay sai bán nước đè bẹp. Nhưng có áp bức là có đấu tranh, với truyền thống hàng ngàn năm giữ nước và giải phóng đất nước, cả dân tộc lao vào tìm kiếm con đường cứu nước.

Đầu thế kỷ 20, trong sự biến đổi sâu sắc của toàn thế giới, trong trào lưu mới của đất nước, các sĩ phu yêu nước, các nhà trí thức tiến bộ như Lương Văn Can, Nguyễn Thượng Hiền, Lương Ngọc Quyến,… - những người con ưu tú của đồng bằng – người ra nước ngoài, kẻ ở lại trong nước mở trường, lập hội, tuyên truyền chủ nghĩa yêu nước, mở mang dân trí (Đông Kinh Nghĩa Thục) … Đông đảo nhân dân vùng đồng bằng đã sôi nổi tham gia mọi hình thức đấu tranh, từ tham gia vụ bạo động đầu độc binh sĩ Pháp ở Hà Nội, giúp đỡ các hội viên Việt Nam Quang Phục hội đến tham gia các cuộc biểu tình đồi thả Phan Bội Châu, để tang Phan Chu Trinh, giúp đỡ các đảng viên Việt Nam Quốc dân đảng nổi dậy trong cuộc khởi nghĩa Yên Bái, tham gia chống sưu thuế…

Phong trào đấu tranh diễn ra sôi nổi trên khắp dải đất đồng bằng, nhưng do thiếu một đường lối phù hợp với xu thế của thời đại, do chính sách đàn áp, khủng bố chia để trị và ngu dân của kẻ thù nên tất cả những hình thức đó đều không đạt hiệu quả. Đúng như Bác Hồ đã nói: “Trong mấy mươi năm khi chưa có Đảng, tình hình đen tối như không có đường ra”.

Trong quá trình bóc lột, tước đoạt, thực dân Pháp tiến hành cái gọi là mở mang công nghiệp nhằm chủ yếu vơ vét tài nguyên hoặc phát triển những ngành công nghiệp bổ sung cho công nghiệp chính quốc và bóc lột nhân công. Từ đó, về khách quan đã dẫn đến sự nảy sinh một lớp người mới – những người vô sản công nghiệp hiện đại.

Xuất thân từ nông dân, những người dân đồng bằng Bắc Bộ trở thành công nhân bằng nhiều con đường khác nhau. Lớp công nhân đầu tiên này đã có những tính chất cơ bản, trước hết là tính chất tập trung ngày càng mạnh trong quá trình phát triển về số lượng. Cùng với công nhân trong cả nước, họ sớm có tinh thần đoàn kết đấu tranh chống áp bức, bóc lột. Đối với thực dân Pháp vừa là kẻ cướp nước, vừa là kẻ áp bức, bóc lột, công nhân đã đứng lên bằng nhiều hình thức. Với số lượng phát triển ngày càng cao, với chất lượng biểu hiện rõ ở tính tập trung, hiện đại và tinh thần đoàn kết đấu tranh chống lại kẻ thù, công nhân Việt Nam đã đủ điều kiện để trở thành một giai cấp – giai cấp công nhân.

Do bị bóc lột nặng nề dưới ba tầng áp bức của thực dân, tư bản và phong kiến, những người công nhân trên địa bàn đồng bằng đã đi từ hình thức đấu tranh thô sơ (đốt lán trại, bỏ trốn tập thể) tiến tới tổ chức các cuộc đình công, bãi công kết hợp đấu tranh kinh tế với đấu tranh chính trị. Ở Hải Phòng có cuộc bãi công của hơn 500 công nhân lò nung nhà máy xi măng đòi tăng lương và chống đánh đập. Công nhân Hải Dương đấu tranh chống bọn thực dân và tay sai chửi bới, đánh đập. Công nhân nhà máy chai Nam Định bỏ việc, phản đối bọn Tây khám nữ công nhân …

Trong khi cách mạng Việt Nam đang phát triển, giai cấp công nhân Việt Nam đang trưởng thành, cả đất nước đang khao khát chân lý cách mạng thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc xuất hiện như một cứu tinh của dân tộc. Sau nhiều năm bôn ba hải ngoại, tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thụ chủ nghĩa Mác Lê-nin và quyết định “Trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do, độc lập”.

Lúc này, mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam và thực dân Pháp kết hợp với mâu thuẫn giữa quần chúng nông dân và giai cấp địa chủ - phong kiến ngày càng trở nên gay gắt. Các tầng lớp nhân dân lao động - những người bị áp bức bóc lột nặng nề nhất – không thể không vùng dậy đấu tranh để giành lại quyền lợi của mình.

Trong công nhân, hình thức đấu tranh ngày càng phổ biến là bãi công. Mùa hè năm 1922, công nhân, viên chức các sở công nghiệp, thương nghiệp và đồn điền ở Bắc Kỳ bãi công đòi nghỉ ngày chủ nhật. Năm 1923, bãi công nổ ra ở nhà máy xi măng Hải Phòng. Từ mùa hè đến mùa thu năm 1924, công nhân ba nhà máy rượu ở Hải Dương, Hà Nội, Nam Định thuộc hãng Phông-ten lần lượt bãi công đòi đuổi tên đốc công Pháp gian ác. Riêng ở Nam Định – một trung tâm kỹ nghệ quan trọng, trong năm 1924 đã nổ ra 4 cuộc bãi công. Năm 1925, bãi công lại nổ ra ở Nhà máy dệt Nam Định.

Trong các trung tâm công nghiệp ở đồng bằng Bắc Bộ, Hải Phòng là một đầu mối giao tiếp với nước ngoài, là một trong những nơi phong trào công nhân và quần chúng lao động sớm được tiếp thụ và truyền bá chủ nghĩa Mác Lê-nin. Ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hà Đông, Sơn Tây từ những năm 1926 – 1930, các tổ chức của Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội – một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm bắt rễ trong quần chúng lao động. Và năm 1929, tại Hà Nội, chi bộ Cộng sản đầu tiên đã ra đời báo hiệu một ánh sáng của cách mạng vô sản đã bừng lên ở chân trời đồng bằng Bắc Bộ.

Sau một thời gian chuẩn bị, tình hình đã cho phép thành lập một đảng thống nhất, ngày 3-2-1930, đúng vào dịp Tết Canh Ngọ, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc – đại diện của Quốc tế cộng sản triệu tập hội nghị hợp nhất các tổ chức Cộng sản để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại bán đảo Cửu Long, Hương Cảng.

Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng nước ta. Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành và đủ sức lãnh đạo cách mạng, chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối và tổ chức lãnh đạo cách mạng kéo dài hai phần ba thế kỷ từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta.

Có Đảng lãnh đạo, phong trào đấu tranh của công nhân trong khu vực đồng bằng Bắc Bộ như người đi đêm được ánh sáng soi đường. Trong cao trào cách mạng 1930 – 1931, công nhân ở Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định… đã đứng lên đấu tranh quyết liệt với bọn tư bản thực dân, sôi nổi nhất là cuộc đấu tranh kéo dài 21 ngày (25-3 đến 16-4-1930) của 4000 công nhân nhà máy sợi Nam Định. Cuộc đấu tranh này được coi là một trong những cuộc đấu tranh mở đầu cho cả cao trào.

Cho đến cuối năm 1930, hòa nhịp với việc thiết lập các Xô-viết trong phong trào cách mạng ở nông thôn Nghệ - Tĩnh, phong trào đấu tranh của nông dân đồng bằng Bắc Bộ cũng phát triển mạnh mẽ ở Thái Bình, Kiến An, Hà Nam. Đặc biệt sôi sục là các cuộc đấu tranh của nông dân Bồ Đề (Bình Lục, Hà Nam) và nông dân Kiến Xương, Tiền Hải. Tại Kiến Xương, Tiền Hải hàng nghìn nông dân đã nổi trống, mõ, kéo vào huyện lỵ, bắt gọn cầm quyền phải trả tiền công đào sông Cốc Giang và giảm sưu thuế. Tại Bồ Đề, hàng nghìn nông dân thuộc ba huyện Bình Lục, Lý Nhâ, Mỹ Lộc đã biểu tình hưởng ứng cuộc đấu tranh của các Xô-viết Nghệ - Tĩnh và của nông dân Tiền Hải đòi giảm sưu thuế, thả tù chính trị.

Đó là những cuộc đấu tranh mở đầu của nông dân đồng bằng Bắc Bộ có tiếng vang lớn trong phong trào cách mạng của cả nước.

Trong thư gửi Ban chấp hành Quốc tế Nông dân ngày 5-11-1930, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Mặc dầu bị đàn áp dã man, phong trào vẫn tiếp tục phát triển: chứng cớ là nông dân ở Bắc Kỳ từ trước vẫn im lặng, nay cũng đã bắt đầu đấu tranh”.

Toàn bộ những cuộc đấu tranh sôi nổi trong cao trào 1930-1931 trên cả hai địa bàn thành thị và nông thôn đã thực sự trở thành cuộc tổng diễn tập lần thứ nhất của Cách mạng tháng Tám trên địa bàn đồng bằng Bắc Bộ. Thành quả lớn nhất của phong trào 1930-1931 là đã khẳng định trong thực tế quyền lãnh đạo và năng lực lãnh đạo cách mạng của Đảng ta, đem lại cho nông dân niềm tin vững chắc vào giai cấp công nhân, đồng thời đem lại cho đông đảo quần chúng lao động lòng tự tin vào sức mạnh cách mạng to lớn của mình.

Dưới ánh sáng Nghị quyết lần thứ 7 của Quốc tế Cộng sản, trước tình hình Mặt trận nhân dân Pháp đã thành lập, Chính phủ phái tả lên cầm quyền ở nước Pháp, tháng 7-1936, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng đã họp để định ra đường lối trong tình hình mới. Mục tiêu chủ yếu trước mắt của cách mạng ta là đấu tranh chống chế độ phản động thuộc địa, chống phát-xít và chiến tranh, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình. Đảng chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương, đến năm 1938 đổi thành Mặt trận thống nhất nhân dân Đông Dương gọi tắt là Mặt trận Dân chủ Đông Dương, nhằm tập hợp các tầng lớp, giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, tổ chức chống lại chế độ phản động thực dân, phong kiến.

Mùa thu năm 1936, phong trào đấu tranh đòi các quyền tự do dân chủ và cải thiện đời sống ở đồng bằng Bắc Bộ được dấy lên sôi nổi dưới những hình thức mới: công khai, hợp pháp hoặc nửa hợp pháp. Nội dung đấu tranh được đề ra là: tự do hội họp, tổ chức, đi lại, ngôn luận, xuất bản; trả tự do cho tù chính trị, thực hiện ngày làm 8 giờ, bỏ thuế thân, giảm các thứ thuế khác; bỏ độc quyền rượu, muối, cấm bán thuốc phiện…

Những cuộc đấu tranh sôi động của nhân dân vùng đồng bằng kết hợp với phong trào đấu tranh trong cả nước đã dẫn tới thắng lợi, buộc thực dân Pháp ra nghị định về quyền lợi của công nhân: làm không quá 10 giờ một ngày từ ngày 1-11-1936, không quá 9 giờ một ngày từ 1-1-1937, không quá 8 giờ một ngày từ 1-1-1938. Công nhân được nghỉ chủ nhật, nghỉ phép năm, nghỉ được hưởng lương, cấm bắt phụ nữ, trẻ em làm việc ban đêm…

Năm 1937, phong trào đấu tranh tiếp tục dâng cao, đặc biệt là các cuộc bãi công lớn của nhà máy tơ Hải Phòng, nhà máy dệt Nam Định. Đông đảo nông dân và thợ thủ công các làng Đại Mỗ, Tây Mỗ, Ý La, La Nội, La Khê, La Phù kéo nhau lên thị xã Hà Đông đấu tranh đòi giảm thuế thân và các thứ thuế khác. Ở Hà Nội, những người Cộng sản trong nhóm báo Lao Động vận động liên tiếp ba cuộc biểu tình đông hàng vạn người đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ.

Thắng lợi lớn nhất của phong trào 1936-1939 của nhân dân đồng bằng Bắc Bộ là đã quán triệt tinh thần cách mạng tiến công, triệt để lợi dụng tính chất và những điều kiện hợp pháp để giáo dục và tổ chức quần chúng đấu tranh trong Mặt trận Dân chủ rộng rãi, kết hợp đấu tranh hợp pháp với nửa hợp pháp và không hợp pháp để đưa phong trào tiến lên.

Nếu cao trao 1930-1931 là cuộc tổng diễn tập đầu tiên thì cao trào 1936-1939 thực sự là cuộc tổng diễn tập thứ hai chuẩn bị cho thắng lợi của Cách mạng tháng Tám.

Năm 1939, chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Lợi dụng tình thế chiến tranh, đế quốc Pháp thực hiện nhiều chính sách hà khắc đối với Việt Nam và các nước Đông Dương. Bộ máy đàn áp của thực dân, phong kiến được tăng cường, nhằm thủ tiêu những quyền lợi mà nhân dân ta đã giành được trong những năm trước.

Hai tháng sau khi chiến tranh thế giới bùng nổ, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 họp, nhận định: “Những thảm trạng do chiến tranh đế quốc gây nên sẽ làm cho trình tự cấp tiến hóa và cách mạng hóa của quần chúng hết sức mau chóng… Cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị gây nên bởi chiến tranh đế quốc lần này sẽ nung nấu cách mệnh Đông Dương nổ bùng”.

Để tập trung mọi lực lượng của dân tộc vào nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc và ách thống trị phát-xít thuộc địa, Đảng chủ trương thành lập Mặt trận Thống nhát dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận Dân chủ không còn thích hợp nữa. Để phù hợp với tính chất đấu tranh trong giai đoạn mới, phương pháp cách mạng chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh đánh đổ chính quyền đế quốc, từ hoạt động hợp pháp sang hoạt động bí mật, chuẩn bị điều kiện tiến tới khởi nghĩa vũ trang.

Thời gian này nhiều sự kiện dồn dập diễn ra trên bán đảo Đông Dương. Tháng 8 năm 1940, sau một thời gian thăm dò lực lượng quân sự của Pháp, Nhật đòi Pháp phải để quân đội Nhật vào Đông Dương. Tháng 9 năm 1940, Pháp chịu nhận các điều khoản của Nhật đề ra, nhưng để thị uy, quân Nhật vẫn vượt qua biên giới Bắc Kỳ đánh chiếm Lạng Sơn, ném bom Hải Phòng và đổ bộ lên Đồ Sơn. Tháng 7 năm 1941, Nhật ép Pháp ký hiệp định quân sự: “Phòng thủ chung Đông Dương”, và tháng 12 năm 1941, Nhật buộc Pháp ký một hiệp định biến Đông Dương thành thuộc địa của chúng.

Trước tình hình đó, Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 họp, khẳng định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược đúng đắn của Nghị quyết Trung ương lần thứ 6 và xác định đối tượng của cách mạng là phát-xít Pháp – Nhật. Mặt trận Thống nhất dân tộc phản đế được đổi thành Mặt trận Dân tộc thống nhất chống phát-xít Pháp – Nhật.

Sau khi Nhật vào Đông Dương, chúng lừa phỉnh, mỵ dân và thuyết “Đại Đông Á”, “Đồng chủng, đồng văn”, “bênh vực” người da vàng, chống lại ách thống trị của người da trắng.

Phát-xít Nhật xâm chiếm Đông Dương trong khi thực dân Pháp vẫn còn ở đó. Do đó, nhân dân ta lại bị thêm một tầng áp bức, bóc lột, phải sống trong cảnh: “một cổ hai tròng”. “Bọn phát-xít Pháp ở Đông Dương hoàn toàn chỉ là con chó giữ nhà cho Nhật, phải thẳng tay đàn áp để giữa vững hậu phương cho Nhật, phải bắt lính, bắt phu và cung cấp tiền tài cho Nhật”. Chúng thi hành hàng loạt chính sách độc ác, bóp nặn đến tận xương tủy nhân dân ta, đặc biệt là đối với đồng bằng Bắc Bộ.

Chúng vừa vơ vét tiền của, vừa đầu độc nhân dân ta bằng cách tăng gia sản xuất thuốc phiện và rượu cồn. Trong khi nhân dân thiếu gạo ăn chúng dùng gạo nấu rượu cồn thay cho xăng, đốt thóc thành than để chạy các nhà máy điện.

Ở đồng bằng Bắc Bộ, hàng vạn héc-ta ruộng đất đang trồng lúa xanh tốt, chúng bắt nhổ đi để trồng đay, bông, thầu dầu nộp cho Nhật. Đặc biệt độc ác là chúng bắt nông dân vùng đồng bằng nộp thóc tạ theo diện tích, không cần biết sản lượng thu hoạch là bao nhiêu.

Về bắt lính, bắt phu chính sách “làm con chó giữ nhà cho Nhật” của thực dân Pháp ở đồng bằng Bắc Bộ được phản ánh một phần trong báo cáo của Đê-rút-xô, tổng giám đốc Nha hầm mỏ gửi toàn quyền Đờ-cu: “Viên thanh tra lao động đã tính toán là cuối năm 1939 chỉ còn 200 nghìn người có thể huy động ở đồng bằng Bắc Bộ. Con số đó có ý nghĩa và chỉ rõ sự sai lầm của ý kiến phổ biến cho rằng đồng bằng là một kho nhân lực. Những cuộc tuyển mộ lính chiến, lính thợ, phu đồn điền đã huy động hết tất cả khả năng. Một sự thật không chối cãi và một tâm lý không thay đổi là người nhà quê chỉ chịu đi làm xa làng của họ khi họ chết đói. Do đó, một kết luận được nêu lên là: liều thuốc để chữa tình trạng khó khăn về nhân lực hiện nay là phải làm sao cho nông dân nghèo đi, là hạ giá các nông sản phẩm”. Sự thật trên phơi bày toàn bộ sự tàn bạo, dã man của thực dân Pháp đối với nhân dân đồng bằng Bắc Bộ.

Bọn giặc Nhật vừa thông qua thực dân Pháp để bóc lột, trực tiếp thi hành nhiều chính sách cướp bóc tàn bạo, dần dần chúng thay Pháp làm chủ nền kinh tế Đông Dương. Thất bại của địch trong việc huy động nhân lực ở đồng bằng là do nhân dân thực hiện khẩu hiệu hành động của Đảng “không một tên lính, không một đồng xu cho chiến tranh đế quốc”, đã tìm mọi cách chống lại các đợt bắt lính, bắt phu của địch. Cuối năm 1940, đầu năm 1941, nhiều cuộc đấu tranh vũ trang liên tiếp nổ ra như khởi nghĩa Bắc Sơn, khởi nghĩa Nam Kỳ và binh biến Đô Lương. Đó là những tiếng súng báo hiệu của cuộc khởi nghĩa toàn quốc sẽ diễn vào tháng 8 năm 1945.

Vào thời gian này, một sự kiện đặc biệt quan trọng đối với cách mạng Việt Nam là sau 30 năm hoạt động cách mạng ở nước ngoài Bác Hồ trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

Sau một thời gian dài nghiên cứu tình hình cách mạng đang diễn ra trong cả nước, ngày 10-5-1941, Bác Hồ thay mặt Quốc tế Cộng sản triệu tập Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8, Hội nghị dương cao hơn nữa ngọn cờ giải phóng dân tộc và xác định đường lối cách mạng trong giai đoạn này là “đánh đuổi Pháp - Nhật, Đông Dương hoàn toàn độc lập”. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Việt Minh thay cho Mặt trận Dân tộc thống nhất chống phát-xít Pháp – Nhật. Một vấn đề quan trọng được Hội nghị Trung ương lần thứ 8 đề ra là dùng khởi nghĩa vũ trang để đập tan bộ máy thống trị của phát-xít Pháp – Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân.

Hội nghị Trung ương lần thứ 8 mang ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó có ý nghĩa quyết đính đối với cách mạng tháng Tám và góp phần bổ sung, phát triển lý luận cách mạng dân tộc dân chủ ở Việt Nam.

(Còn nữa…)

Nguồn: Lịch sử Quân khu 3, NXB QĐND